Trang chủ ||  Bản đồ qui hoạch
  THÔNG TIN CHÍNH  

  HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ  

  NHÀ ĐẦU TƯ  


LƯỢT TRUY CẬP

214906

Tin hoạt động

Nghiên cứu điều kiện nuôi trồng cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) in vitro ở điều kiện nhà kính và tự nhiên tại tỉnh Lâm Đồng (30/12/2019 )

Hiện nay, sâm Ngọc Linh đang được khai thác quá mức nên việc chủ động nguồn giống từ hạt còn gặp nhiều khó khăn. Trong nghiên cứu này, cây sâm Ngọc Linh có nguồn gốc nuôi cấy in vitro được sử dụng làm nguồn vật liệu ban đầu để khảo sát ảnh hưởng của các loại giá thể nuôi cấy khác nhau (đất sạch Pinstrup, đất mùn núi, xơ dừa, phân bò khô, bả trồng nấm và vỏ trấu hun), chế độ dinh dưỡng (tỷ lệ N:P2O5:K2O) và điều kiện sinh thái của 4 mô hình nuôi trồng (2 điều kiện nhà kính, 1 điều kiện nhà mái che kiên cố 1 điều kiện trồng ngoài tự nhiên) đối với khả năng thích nghi, sinh trưởng, phát triển và ra hoa của cây sâm Ngọc Linh. Kết quả ghi nhận được cho thấy, cây sâm Ngọc Linh có nguồn gốc nuôi cấy mô cho sự thích nghi và sinh trưởng tốt trên giá thể đất mùn:phân bò khô:xơ dừa (tỷ lệ 1:1:1) và chế độ dinh dưỡng N:P2O5:K2O (3:1:1) ở giai đoạn vườn ươm (cây 1 năm tuổi, bón phân 1 tháng/lần với liều lượng 5 g/cây); trong khi đó ở giai đoạn vườn trồng (cây 2 năm tuổi trở lên, bón phân 1 tháng/lần với liều lượng 20 g/cây) là giá thể đất mùn:phân bò khô:Pindstrup (tỷ lệ 1:1:1) và chế độ dinh dưỡng N:P2O5:K2O (tlệ 4:1:3). Bên cạnh đó, điều kiện nhà kính cho tỷ lệ sống sót cao (79,8%) và cây sâm đã cho hoa (18 cây). Các cây sâm Ngọc Linh có nguồn gốc nuôi cấy in vitro 5 năm tuổi cho khả năng tích lũy saponin G-Rg1 (1,248%), G-Rb1 (1,012%) và saponin M-R2 (1,417%) là đạt tiêu chuẩn dược điển sâm Việt Nam của Bộ Y tế ban hành. Đây là cơ sở cho việc có thể di thực cây sâm Ngọc Linh tới các vùng có điều kiện sinh thái tương tự nhằm mở rộng vùng trồng sâm.

Sáng ngày 07/11/2019, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng đã thành lập hội đồng nghiệm thu chính thức đề tài "Nghiên cứu khả năng ra hoa, tạo hạt của cây Sâm Ngọc Linh in vitro tại Đà Lạt" do Ban quản lý Khu Công nghệ sinh học và Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Đà Lạt chủ trì thực hiện. Đề tài được hội đồng đánh giá đạt.

Qua 4 năm triển khai thực hiện (2015-2019), đề tài đã nghiên cứu được các loại giá thể phù hợp cho cây sâm Ngọc Linh in vitro trên vùng đất mới. Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm nhiều chế độ phân bón dinh dưỡng sao cho vừa đảm bảo năng suất, vừa đạt được chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của cây dược liệu, và đặc biệt là tìm ra dải điều kiện các nhân tố sinh thái môi trường như: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng để cho cây sinh trưởng và phát triển tốt. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã xây dựng quy trình xử lý và ươm gieo hạt giống; tiêu chuẩn cây con xuất vườm từ cây in vitro.

 Đến nay, đã có nhiều cây sâm Ngọc Linh in vitro cho ra hoa, kết quả. Đây là cơ sở khoa học vững chắc khẳng định sự tồn tại của sản phẩm dược liệu nổi tiếng sâm Việt Nam trên vùng đất lành Đà Lạt.

Kết quả nghiên cứu

Ảnh hưởng của các loại giá thể nuôi trồng khác nhau đến sự sinh trưởng của cây sâm in vitro ở điều kiện nhà kính

Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm trên 12 loại hỗn hợp giá thế khác nhau trong cùng một điều kiện. Sau 9 tháng. Kết quả cho thấy, giá thể phù hợp cho việc trồng sâm Ngọc Linh in vitro tại Đà Lạt tương ứng với các nghiệm thức đất mùn: phân bò khô: xơ dừa (tỉ lệ 1:1:1) và đất mùn: phân bò khô: Pinstrup (tỉ lệ 1:1:1). Trong đó, đất mùn: phân bò khô: xơ dừa (tỉ lệ 1:1:1) phù hợp cho cây ở giai đoạn vườn ươm và đất mùn: phân bò khô: Pinstrup (tỉ lệ 1:1:1) phù hợp cho cây ở giai đoạn vườn trồng với cây sâm Ngọc Linh in vitro từ 2, 3 năm tuổi trở lên.

Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng khác nhau lên sự sinh trưởng của cây sâm in vitro ở điều kiện nhà kính

Sau 6 tháng theo dõi, đối với giai đoạn vườn ươm (1 năm tuổi), cây phát triển tốt ở nghiệm thức N:P2O5:K2O tỷ lệ 3:1:1; ở giai đoạn vườn trồng, cây 2, 3 năm tuổi trở lên sinh trưởng tốt ở nghiệm thức tỷ lệ 4:1:3. Đối với giai đoạn vườn trồng, nghiệm thức tỷ lệ 4:1:3 cây phát triển nhanh hơn so với ở nghiệm thức tỷ lệ 3:1:1. Ở nghiệm thức này, cây phát triển mạnh về chiều cao, thân lá, đường kính tán, số lá trên cây cũng ra nhiều và xanh, thân cây to và cứng cáp, rễ phát triển mạnh, đường kính củ phát triển.

 Kết quả cho thấy, khối lượng thân rễ trung bình trên mẫu thu ở cây 5 năm tuổi đạt 77,5 g, đặc biệt có cây đạt 94,9 g.

Đánh giá khả năng thích nghi và sinh trưởng của cây sâm in vitro ở các điều kiện nuôi trồng khác nhau

Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái môi trường đến quá trình thích nghi, sinh trưởng và ra hoa của cây sâm Ngọc Linh tại các điều kiện nuôi trồng khác nhau cũng được ghi nhận.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi trồng cây sâm Ngọc Linh in vitro ở điều kiện nuôi trồng khác nhau cho kết quả khác nhau. Tỷ lệ sống sót của cây sâm Ngọc Linh đạt cao nhất ở nhà kính tại khu vực Đà Lạt (79,8%), tiếp theo là khu vực ngoài trời Hồ Tuyền Lâm (70,0%), khu vực nhà mái che (61,0%) và thấp nhất tại khu vực xã Đạ sar (40%).

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, chỉ có 2 mô hình có cây ra hoa là tại khu vực nhà kính Đà Lạt và khu vực rừng Hồ Tuyền Lâm (2 điều kiện nuôi trồng đã có 25 cây ra hoa).

Hai mô hình tại khu vực xã Đạ sar và nhà mái che kiên cố khu vực hồ Tuyền Lâm không có cây cho hoa. Điều này có thể lý giải rằng: các yếu tố sinh thái tại 2 khu vực trên chưa phù hợp. Ở khu vực xã Đạ sar, để giảm nhiệt độ xuống mức thấp nhất có thể, ngoài việc che sáng bằng lưới chắn sáng, nhóm nghiên cứu đã tăng lượng nước tưới phun sương, dẫn đến tăng độ ẩm đất, do đó cây sinh trưởng phát triển kém, tỷ lệ sống không cao. Khu vực nhà mái che kiên cố, mái lợp bằng phên tranh, xung quanh chắn lưới đen: mặc dù phần mái được lợp bằng tấm phên tranh, khả năng che chắn ánh sáng tốt, lượng nước tưới ổn định, nhưng độ ẩm tương đối thấp, gió nhiều (do địa hình tương đối thông thoáng). Mặc dù cây sinh trưởng tương đối tốt, nhưng chưa có cây ra hoa - đây cũng là yếu tố cần xem xét đánh giá thêm.

Khả năng tích lũy saponin

Các mẫu cây sâm Ngọc Linh có nguồn gốc nuôi cấy in vitro được phân tích hàm lượng saponin. Kết quả được ghi nhận và so sánh với mẫu sâm tự nhiên thu nhận tại vùng trồng sâm Ngọc Linh (4 và 5 năm tuổi) ở Quảng Nam, Kon Tum trong bảng 1 dưới đây.

Bảng 1. Kết quả phân tích hàm lượng saponin trong sâm Ngọc Linh in vitro qua các năm tuổi.

Hợp chất

G-Rg1 (%)

M-R2 (%)

G-Rb1 (%)

Tổng (G-Rg1 + M-R2 + G-Rb1) (%)

Mẫu 2 tuổi

0,404±0,007

0,073±0,001

0,196±0,005

0,673±0,013

Mẫu 3 tuổi

0,873±0,014

0,225±0,018

0,506±0,005

1,604±0,037

Mẫu 4 tuổi

1,149±0,011

1,389±0,014

0,988±0,013

3,526±0,038

Mẫu 4 tuổi*

1,110±0,0032

2,040±0,0024

0,990±0,0087

4,140±0,0143

Mẫu 5 tuổi

1,248±0,009

1,417±0,032

1,012±0,003

3,677±0,044

Mẫu 5 tuổi*

1,550±0,0088

3,120±0,0538

1,370±0,0207

6,040±0,0833

*: bảng mô tả tính chất, chất lượng, danh tiếng của sản phẩm sâm củ mang chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” do Cục Sở hữu trí tuệ cấp ngày 24/5/2016.

Từ kết quả của đề tài so sánh với cây sâm Ngọc Linh được trồng tại vùng núi Ngọc Linh cho thấy, đối với sâm Ngọc Linh có nguồn gốc nuôi cấy in vitro, hàm lượng saponin trong cây 4 năm tuổi có hàm lượng G-Rg1 và G-Rb1 tương đương cây sâm Ngọc Linh 4 năm tuổi được trồng tại vùng núi Ngọc Linh. Riêng hàm lượng M-R2 thấp hơn (1,389 so với 2,040), đạt 68% so với sâm trồng tại vùng núi Ngọc Linh. Tính tổng thể, so sánh ở cây 4 năm tuổi: hàm lượng saponin của cây sâm Ngọc Linh có nguồn gốc nuôi cấy in vitro đạt 85% so với cây sâm được trồng tại vùng núi Ngọc Linh. Đối với sâm Ngọc Linh có nguồn gốc nuôi cấy in vitro 5 năm tuổi hàm lượng G-Rg1, G-Rb1 và M-R2 thấp hơn cây sâm Ngọc Linh 5 năm tuổi được trồng tại vùng núi Ngọc Linh, tuy nhiên vẫn đạt tiêu chuẩn dược điển sâm Việt Nam của Bộ Y tế ban hành. Tuy nhiên, khối lượng trung bình (77,50 g) thu nhận được tại điều kiện Đà Lạt, Lâm Đồng tương đương khoảng 10-15 củ/kg thì hiệu quả mang lại cũng tương đối cao.

Với tình hình sâm Ngọc Linh tự nhiên bị khai thác bừa bãi và trữ lượng không còn đáng kể như hiện nay, biện pháp nuôi trồng tạo cây sâm hoàn chỉnh giúp ta có thể chủ động trong nguồn cung cấp sâm. Khi khảo sát Trại dược liệu Trà Linh tại tỉnh Quảng Nam, Đặng Ngọc Phái và cộng sự (2002) đã đưa ra một số khó khăn của việc chăm sóc cây sâm Ngọc Linh (bón các loại phân hữu cơ, NPK…) chưa thực hiện được do đặc điểm địa hình trở ngại cho việc vận chuyển, cũng như khó khăn về kinh phí. Do trồng ngoài tự nhiên nên cây sâm dễ bị các loại bệnh như rỉ sắt, thối cổ rễ (rễ nhũn dần), bệnh vàng lá… Theo lý thuyết, số lượng hạt mỗi năm thu được sẽ tăng lên do số lượng cây có khả năng thu được hạt hàng năm tăng, nhưng trên thực tế số lượng này không tăng nhiều do các nguyên nhân như hạn chế trong kỹ thuật chăm sóc của công nhân; sự phá hoại của các loại chim, chuột, sóc, ảnh hưởng của thời tiết…

Một nhược điểm nữa của việc nuôi trồng theo phương pháp truyền thống là cần diện tích canh tác lớn, thời gian trồng lâu (khoảng 5-6 năm mới thu hoạch được). Hơn nữa, loài sâm này chỉ có thể tăng trưởng trong những điều kiện nhất định, nên những khu vực có thể trồng trọt là rất hạn chế. Mặt khác, lượng sâm thu được cũng không nhiều do củ sâm 5-6 tuổi có khối lượng tươi bé nhất khoảng 5-7 g, lớn chỉ khoảng 50-70 g. Hiện nay, giá sâm Ngọc Linh tăng lên rất cao, đạt 40-50 triệu đồng/kg sâm tươi (trên 20 củ) và 60-80 triệu đồng/kg sâm tươi (dưới 20 củ) nên việc thất thoát nguồn sâm do khai thác bừa bãi và trộm cắp là một điều rất đáng lo ngại.

Việc ứng dụng nuôi cấy mô để nhân giống cây sâm Ngọc Lịnh nhằm tạo ra một nguồn giống lớn cung cấp cho các khu vực trồng sâm Ngọc Linh là một hướng để giải quyết những hạn chế còn tồn tại của phương pháp nhân giống truyền thống. Mặt khác bằng phương pháp nuôi cấy mô có thể tạo ra một nguồn giống lớn, cung cấp cho người dân, từ đó có thể xã hội hóa việc trồng sâm Ngọc Linh, mang lại lợi ích kinh tế cho các đồng bào dân tộc và phát triển thương hiệu sâm Việt Nam trên thế giới. Hiện nay, có hai tỉnh có khu vực trồng và phát triển cây sâm Ngọc Linh đó là Quảng Nam và Kon Tum. Tỉnh Quảng Nam có Trại dược liệu Trà Linh thuộc xã Trà Linh là xã vùng cao phía tây nam của huyện Trà My. Tỉnh Kon Tum có Lâm trường sâm Ngọc Linh với chốt sâm đóng tại xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông, đây là khu vực trồng sâm nằm trong dự án bảo tồn cây sâm Ngọc Linh của Chính phủ do Công ty Đầu tư phát triển lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Đăk Tô quản lý. Ngoài ra, ở hai tỉnh này còn có các điểm trồng tự phát của người dân. Các khu vực trồng sâm đều nằm trên núi cao, có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình 20-23°C, nhiệt độ cao nhất trung bình 28°C, nhiệt độ thấp nhất trung bình 5-10°C. Nhờ điều kiện khí hậu mát mẻ như trên, cây sâm mới có thể tồn tại và phát triển ở đất nước ta, nơi có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nghiên cứu cho thấy, với điều kiện nuôi trồng ở Đà Lạt và cách thức bố trí thí nghiệm tương đồng với vùng núi Ngọc Linh thì cây sâm Ngọc Linh có thể thích nghi và sinh trưởng. Kết quả ghi nhận về tỷ lệ sống sót, khả năng sinh trưởng, ra hoa của cây chưa cao so với kỳ vọng nhưng đây là nghiên cứu tiền đề cho những nghiên cứu sâu và rộng hơn nhằm phát triển vùng trồng sâm Ngọc Linh tại Đà Lạt và vùng phụ cận trong thời gian tới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO           

            [1] Nguyễn Thượng Dong, Trần Công Luận, Nguyễn Thị Thu Hương (2007), Sâm Việt Nam và một số họ Nhân sâm, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật.

            [2] G. Bruszt, T. Ammour, J. Claussen, Z. Ofir, N.C. Saxena, S. Turner (2003), External Review, IUCN (International Union for Conservation of Nature).

            [3] Dương Tấn Nhựt (2011), Hệ thống nuôi cấy lớp mỏng tế bào trong nghiên cứu chương trình phát sinh hình thái và bảo tồn cây sâm Ngọc Linh, Báo cáo tổng kết đề tài NAFOSTED.

            [4] Dương Tấn Nhựt (2014), Hệ thống chiếu sáng đơn sắc - nguồn sáng nhân tạo cho nghiên cứu tái sinh và nhân giống một số loại cây trồng nuôi cấy in vitro, Báo cáo tổng kết đề tài NAFOSTED.

            [5] Dương Tấn Nhựt (2014) Ứng dụng hệ thống chiếu sáng đơn sắc (LED) trong nghiên cứu nhân nhanh cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) với số lượng lớn phục vụ nhu cầu nhân giống của tỉnh Quảng Nam, Báo cáo tổng kết dự án sản xuất thử nghiệm cấp Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.

            [6] Bùi Thế Vinh, Trần Công Luận (2011), “Xây dựng phương pháp định lượng G-Rb1, G-Rg1 và MR2 trong sâm Việt Nam bằng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao”, Tạp chí Dược liệu, 16, tr.44-50.

            [7] Đặng Ngọc Phái, Nguyễn Như Chính, Nguyễn Minh Đức, Trần  Thị  Vi  Cầm,  Lê  Thế  Tùng,  Nguyễn  Minh  Cang (2002), “Tình hình trồng trọt - phát triển cây sâm Việt Nam và một số kết quả nghiên cứu về cây sâm Việt Nam”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 6, tr.12-18.

Phan Công Du, Nguyễn Lê Quốc Hùng,
Lê Thị Phương Hội và nhóm cộng sự

 

 



 
KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO LÂM ĐỒNG
Địa chỉ: Số 35 Trần Hưng Đạo - Phường 10 - Tp.Đà Lạt - Lâm Đồng
Điện thoại: 02633.824.943; Fax: 02633.824.941
Email: dalathtp@gmail.com